Tuesday, June 5, 2012


(Toquoc)-Quan hệ Mỹ-Việt đang có nhiều cơ hội, cần lượng định đúng và thúc đẩy hợp tác lên tầm mức mới, phù hợp với không gian chiến lược mới.

Trong bài phát biểu đề dẫn tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 11 vừa rồi, Tổng thống Indonesia Susilo Ydhoyono nói rằng “Cần phải có văn hóa chiến lược mới, vượt khỏi gánh nặng của quá khứ lịch sử để khai thác thời cơ mới” hiện nay. Thời cơ mà vị tổng thống Indonesia đề cập chính là sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc Mỹ tích cực thực hiện chủ trương “trở lại châu Á”.
Mỹ thực ra chưa từng rời châu Á kể từ khi nước này thực hiện cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1898 mà Philippines trở thành “chiến lợi phẩm”. V.I. Lenin đã gọi việc Mỹ chiếm Philippines “là một bước tiến tới châu Á, tiến tới Trung Quốc”. Nhưng sau cuộc Chiến tranh Việt Nam thì Mỹ đã giảm sự dính líu và hiện diện tại Đông Nam Á tới mức tối thiểu, trong khi vẫn duy trì khoảng 300 căn cứ quân sự tại Đông Bắc Á (Nhật Bản và Hàn Quốc). Nói Mỹ “trở lại châu Á” thực chất là nói Mỹ trở lại Đông Nam Á. Cuộc xung đột Biển Đông đã đem lại một cơ hội để Mỹ thực hiện các cam kết mới, hiện diện mới với hình ảnh mới. Nhìn toàn cảnh cục diện châu Á-Thái Bình Dương hiện nay, điều tổng thống Indonesia đề cập tại Shangri-La, “cơ hội” chính là những gì xuất hiện từ cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung, mà Biển Đông là một phép thử. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon 
Panetta
Đáng lẽ cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung này là một “thách thức”. Nhưng trong thách thức xuất hiện nhiều cơ hội. Hãy xem Nhật Bản, Hàn Quốc - hai đồng minh an ninh quân sự gần gũi nhất của Mỹ - tận dụng cơ hội giỏi như thế nào qua những hiệp định và thỏa thuận đầu tư, thương mại và tiền tệ đạt được với những ưu ái từ phía Trung Quốc trong hơn một tháng qua. Hãy xem Singapore, Indonesia - các đối tác an ninh quân sự quan trọng của Mỹ - được Trung Quốc trọng vọng, tranh thủ như thế nào. Indonesia nhận được 22 tỷ USD tín dụng ưu đãi trong 2 năm; Singapore là đối tác đầu tư thương mại được Trung Quốc ưu tiên, là đối tượng Bắc Kinh tranh thủ về chính trị, ngoại giao.
Cuộc chơi sòng phẳng, đánh bài ngửa, xen lẫn hợp tác, đấu tranh. Mâu thuẫn chủ quyền lãnh thổ biển đảo gay gắt ở các biển Hoàng Hải và Hoa Đông không cản trở Trung-Nhật-Hàn thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, tiền tệ. Hàn Quốc có Hiệp định tự do thương mại (FTA) với Mỹ, đang đàm  phán FTA với Trung Quốc. Nhật Bản đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương với Mỹ (TPP) cũng đàm phán FTA tay ba Trung-Nhật-Hàn. Không ai “bỏ trứng vào một giỏ”.
Trung Quốc, hay bất kỳ nước lớn nào cũng vậy, chỉ trọng những kẻ mạnh, có thế lực, có chí khí. Chính các học giả Trung Quốc đã khái quát đặc điểm chủ yếu của quan hệ quốc tế tại khu vực này: Các nước đi với Mỹ về an ninh quốc phòng, đi với Trung Quốc về kinh tế; dùng quan hệ với Mỹ làm đòn bẩy quan hệ với Trung Quốc, dùng quan hệ với Trung Quốc làm đòn bẩy quan hệ với Mỹ, dùng thế để tạo lực. Nước nào chập chững trong đối sách, không khai thác được các thời cơ mà cuộc cạnh tranh chiến lược này mang lại, nước đó bị thiệt hại chiến lược.
Bằng cuộc đối đầu với Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham 2 tháng qua, Philippines đã triển khai xong chính sách “kéo” Mỹ trở lại Philippines. Tận dụng cơ hội chiến lược Mỹ chuyển trọng tâm sang châu Á, Manila đã đạt được điều họ muốn, đó là đưa Philippines trở lại trung tâm chính sách Mỹ tại Đông Nam Á/Biển Đông. Trong hai phát biểu gần đây nhất của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta, Philippines được đặt cạnh Nhật Bản và Hàn Quốc như đồng minh an ninh quân sự gần gũi nhất của Mỹ. Philippines rồi sẽ ra khỏi cuộc đối đầu Biển Đông với Trung Quốc, bình thường hóa trở lại các mối quan hệ láng giềng giữa hai nước ở đôi bờ Biển Đông, nhưng từ một tư thế mới.
Chính sách đối ngoại của một quốc gia xuất phát từ vị trí địa-chiến lược của quốc gia đó. Điều ấy Napoléon Bonaparte đã nói từ thế kỷ 18:  “Chính sách của một quốc gia là do địa lý của nó quyết định”. Việt Nam có một đường bờ biển dài hơn 4000 km ở phía tây Biển Đông, nơi có các con đường biển quan trọng cho thương mại và quân sự, nhất là tàu ngầm hạt nhân. Đồng thời Việt Nam nằm ở sườn phía nam của Trung Quốc, “núi liền núi, sông liền sông”. Vị trí địa lý độc đáo ắt phải có chính sách đối ngoại độc đáo.
Quan hệ Việt-Trung là quan hệ láng giềng chung biên giới. Trải hàng ngàn năm bang giao hảo thoại, chính sách Trung Quốc của Việt Nam có sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đó là “hòa hiếu”, “tôn trọng nước lớn”, nhưng giữ vững độc lập tự chủ, bảo vệ từng tấc đất biên cương. Mối quan hệ này được đổi mới qua các thời đại. Đến thế kỷ 15 được Nguyễn Trãi khái quát“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/Song hào kiệt đời nào cũng có”. Ngày nay, mối tương quan đó một lần nữa biến đổi to lớn, đầy thách thức, đầy cơ hội. Điều mà người Việt Nam đương thời không khỏi không hài lòng, đó là quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với Trung Quốc chưa phát huy được cái vị trí gần gũi địa lý để hình thành phân công lao động; nông sản Việt Nam vẫn bị thương nhân Trung Quốc chèn ép giá, bỏ thối ở cửa khẩu; các sạp hàng Việt Nam tràn ngập hàng giá rẻ hoặc thứ phẩm của Trung Quốc. Việt Nam trở thành một trong quốc gia nhập siêu lớn nhất của Trung Quốc, xét theo tỷ lệ thương mại. Các nhà chức trách kinh tế thương mại hay các doanh nhân Việt Nam nên nhìn lại mình, xác định xem mình đã làm gì, đã thấu hiểu văn hóa kinh doanh của Trung Quốc chưa, ý chí tự cường dân tộc thế nào, trước khi trách người. Nhưng trong quan hệ nhà nước, các nhà thương lượng phải có cái trí, cái dũng của người xưa để bảo vệ được lợi ích kinh tế quốc gia, phát huy “16 chữ vàng” và “4 tốt” mà không để mình bị bối rối chập chững và cũng không làm chúng mai một.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta thăm cảng Cam Ranh, ngày 3/6/2012
Mỹ là nước bạn từ xa đến, đang sẵn sàng thúc đẩy các mối quan hệ mới lên bất kỳ tầm mức nào mà Việt Nam muốn. Tất nhiên, mỗi quốc gia đều theo đuổi lợi ích của mình. Rồi đây Việt-Mỹ có thể trở thành đối tác trong TPP.  Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đang thăm Việt Nam, thực hiện cuộc dừng chân có ý nghĩa tượng trưng cao tại cảng Cam Ranh, một trong các cảng nước sâu quan trọng nhất châu Á. Hợp tác an ninh hàng hải rồi đây sẽ là một nội dung quan trọng trong thế kỷ biển xanh trở thành biên giới mới của hợp tác quốc tế. Từ năm 2003, 20 tàu của hải quân Mỹ đã cập cảng của Việt Nam. Ngành dịch vụ cảng Việt Nam đã thực hiện các sửa chữa nhỏ đối với các tàu phi tác chiến của hải quân Mỹ. Cần đưa các hợp tác kỹ thuật lên quy mô lớn hơn, linh hoạt hơn nữa, sinh lợi hơn nữa.
Tất nhiên ta phải lượng định được, trong toàn bộ chiến lược rộng lớn của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương, vấn đề Biển Đông hay quan hệ Mỹ-Việt, chỉ là một thành tố nhỏ. Quan hệ Mỹ-Trung mới là quan trọng nhất. Cả Mỹ và Trung Quốc đều đang ra sức thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với nhau, bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, an ninh quân sự, lên tầng nấc cao nhất.
Việt Nam không liên minh với nước này chống nước khác, không đi với Mỹ chống Trung Quốc. Đó là nguyên tắc đối ngoại quốc gia cuả Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam cần nên tận dụng các cơ hội mới để mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước và sức mạnh kinh tế quốc gia; bên cạnh mở rộng đối tác chiến lược với “Ngũ cường” (Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản) và quan hệ với các quốc gia khác. Vận dụng điều Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu lên năm 1947, “làm bạn với mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai”./.

Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường  http://hotrungnghia.multiply.com/journal

Sunday, June 3, 2012


Việt Nam mua vua tàu ngầm động cơ Diesel của Nga?

 Nga đã bắt đầu đến Việt Nam để chào hàng một phiên bản nâng cấp của loại tàu ngầm lớp Kilo - Amur, loại tàu ngầm này rất thích hợp cho việc tuần tra và chiến đấu trong vùng Biển Đông Việt Nam
Tàu ngầm lớp Amur cũng có thể được trang bị loại tên lửa phóng từ tàu ngầm để tấn công mục tiêu mặt đất, do đó nó hoàn toàn có thể bảo vệ tất cả các mục tiêu trên bờ biển và các đảo trên vùng biển Đông Việt Nam. Hải quân Việt Nam có thể có một lực lượng mạnh mẽ dưới nước trong vùng biển Đông

Theo thời báo Thượng Hải cho biết  Phó Cục trưởng Cục Hợp tác Công nghệ quân sự Liên bang Nga cho rằng cục thiết kế Ruby bắt đầu tìm kiếm thị trường xuất khẩu cho tàu ngầm diesel-điện Amur của Nga. Là phiên bản của tàu ngầm nội địa với một số lượng tàu ngầm Lada trong Hải quân Nga, sự hình thành của một lực lượng chiến đấu mới dưới nước.

Phó tổng giám đốc của Công ty xuất khẩu quốc phòng Rosoboronexport ông Victor Komar cho biết rằng, Nga cam kết tăng cường hợp tác quân sự-kỹ thuật với các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là ở một số nước Đông Nam Á, Nga coi đây là tiềm năng lớn nhất cho thị trường xuất khẩu vũ khí.  

Victor Komar  cho rằng các ‘đối tác ở Đông Nam Á, quan trọng nhất là Việt Nam, Việt Nam được Nga coi là một trong những khách hàng quan trọng nhất về quốc phòng. Việt Nam đã đặt mua từ Nga 6 tàu ngầm do Cục Thiết kế ‘Ruby’ phát triển, tàu ngầm được đóng ở nhà máy St Petersburg, dự kiến sẽ bắt đầu chuyển giao hoạt động năm 2014.

Có những chiếc tàu ngầm Amur này, Việt Nam sẽ triển khai tại Biển Đông, một lực lượng vô cùng đáng sợ dưới mặt nước.

Tuy nhiên, Việt Nam có thể không chỉ đơn thuần cần sáu tàu ngầm Kilo. Ông Komar cho rằng: ‘Hải quân Việt Nam họ cần một sức mạnh chiến đấu của tàu ngầm cao hơn cả loại Kilo và phải được cấp thiết thiết lập trong sáu hoặc bảy năm nữa, họ không thể chỉ dựa vào các tàu ngầm Kilo. Theo phân tích, nếu Việt Nam có thể mua một đội tàu ngầm Amur, lực lượng tàu ngầm của Việt Nam sẽ thật sự trở thành một lực lượng quyền lực trong khu vực.

Công ty Xuất khẩu quốc phòng Nga đang tích cực liên hệ làm việc với Việt Nam. Để kết thúc thỏa thuận này, công ty cho biết rằng Nga sẽ đóng các tàu ngầm Amur, trong khi các doanh nghiệp đóng tàu Việt Nam có thể tham gia dự án sản xuất tàu ngầm.

 Nga không chỉ trao thiết kế mà còn hợp tác chung trong quá trình sản xuất và cung cấp và đào tạo cho Việt Nam một số công nghệ xây dựng tàu ngầm tiên tiến.

Sunday, January 21, 2007

Ảo Giác Ngày Xuân

Chúa xuân tặng tuổi cho người
Tặng đôi sợi bạc cho tôi nao lòng
Tặng em một chút ửng hồng
Một trời áo lụa phơi phong mắt chiều
Giật mình mình biết mình yêu
Một bông hoa cải ít nhiều ngây thơ
Hoa vàng nhuộm giấc ngủ mơ
Dòng sông xưa cũ bây giờ còn trong
Mưa xuân ướt áo chờ mong
Đường quê mướt cỏ mà không thấy người
Khói sương rúc rích tiếng cười
Một bầy tiên nữ trêu người xa xăm
Trở về phố xá thanh tân
Hộp thư điện tử thiệp xuân chúc mừng
Nao lòng tôi nhớ người dưng
Nhớ bông hoa cải rưng rưng gió vàng…

Tuesday, January 16, 2007

SaPa-Người Đẹp Trên Núi





Đến với “người đẹp - Sapa”, người ta như quên đi mọi cảm giác ưu phiền, những lo toan bộn bề, những bụi bặm phố phường... chỉ còn mây, trời, cảnh sắc lãng mạn, hùng vĩ của nơi “nóc nhà Đông Dương”... Con người ở đây sống với mây, hoà trong mây, lãng đãng thả hồn mình lúc bí ẩn, nhạt nhòa, lúc quang tỏa, quyện quấn cùng mây. Chẳng thế mà, Sapa còn được gọi là thị trấn trong mây hay thị trấn trong sương. Chỉ riêng mây thôi, nếu chiêm ngưỡng kỹ càng sẽ cảm nhận được sự kỳ thú, lung linh hư ảo của “những tấm voan trắng” quện quanh lưng núi, lững lờ trôi trong không gian hay có lúc sà xuống quấn quýt cùng người như sờ thấy được, nắm được trong tay...
Sapa nằm giữa vùng núi non nên thơ mà hùng vĩ của miền Tây Bắc tổ quốc, với nhiệt độ trung bình hàng năm 16-200C, là nơi lý tưởng cho nghỉ dưỡng sau những ngày mệt mỏi, căng thẳng của đời sống... Khí hậu của Sapa rất đặc biệt, trong một ngày có đủ bốn mùa: sáng - mùa xuân, trưa - mùa hè, chiều - mùa thu, đêm - mùa đông. Sapa mới kỷ niệm 100 năm ngày ra đời của mình. Lịch sử viết rằng, từ năm 1903, người Pháp đã xây dựng ở đây khu nghỉ mát du lịch với gần 300 biệt thự. Do đặc điểm Sapa ở độ dốc không đều nhau, nên có những bậc thang khắp từ con phố này sang con phố kia, dọc các con phố nhỏ nhắn, xinh đẹp là những ngôi nhà xinh xắn, hình khối đa dạng ẩn hiện, khi lên cao lúc xuống thấp... Tới Sapa không thể quên ngôi nhà thờ cổ với tháp chuông chót vót. Ngôi nhà thờ là chứng nhân, là nơi trọng tâm của thị trấn.
Cho đến nay, nhìn tổng thể, quy hoạch - kiến trúc Sapa đã khá thống nhất khi kết hợp được vẻ nguyên sơ của vùng núi non miền cao với vẻ sang trọng, lịch lãm của những tòa nhà xây theo kiến trúc đô thị của Pháp. Nhiều trục đường được xây dựng men theo các sườn núi, bao bọc trung tâm thị trấn, tạo cho Sapa một thế “mở”. Quanh Sapa có nhiều dân tộc thiểu số như: H’Mông, Dao, Tày, Giáy, Mường, Thái, Xá Phó, Hà Nhì... Đến Sapa, một cảm nhận thật dễ chịu, đó là sự chan hòa, cởi mở của người dân tộc nơi đây. Người dân tộc bán thổ cẩm, bán hoa trái, hướng dẫn khách du lịch... Điều đặc biệt, rất nhiều người dân tộc (già và trẻ em) nói tiếng Anh rất thạo.
Sapa tinh khiết như một tấm tranh lụa của Tề Bạch Thạch, với mờ nhạt, chấm phá những ngôi nhà ẩn hiện trong sương. Khách du lịch có thể làm một tour tới Thác Bạc, làng thổ cẩm Tả Phìn, núi Hàm Rồng hay xa hơn nữa là tới bãi đá cổ, có chữ viết cách đây hàng nghìn năm (tới nay chưa giải mã được). Đến Sapa có thể nhâm nhi chén rượu Sán Lùng, thưởng thức bắp ngô nướng, trứng nướng và thong thả dạo bước trong mây, trò chuyện cùng các cô gái dân tộc...
Thắng cảnh trên núi Hàm Rồng (nằm ngay trong khu vực thị trấn) ở độ cao 2.000 m được đầu tư, chăm sóc công phu có thể gọi là “Vườn trời” bởi sự kỳ thú, muôn màu và luôn gây bất ngờ cho người thưởng ngoạn. ở đây có Cổng trời, Sân mây, vườn Đà Điểu... Nhiều người nhận xét “Vườn trời” là nơi đẹp nhất về cảnh quan trên núi ở Việt Nam. Đứng ở đây có thể quan sát được toàn bộ “người đẹp - Sapa”.

Monday, January 15, 2007

Bông Hồng Cài Áo











Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không “lớn” lên được. Cằn cỗi, héo mòn. Những bài hát những bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng dễ hay, cũng hay. Người viết, dù không tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ. Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài ấy thì sợ sệt, lo âu… sợ sệt lo âu cho một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chắc chắn phải đến :

Năm xưa tôi còn nhỏ
mẹ tôi đã qua đời!
Lần đầu tiên tôi hiểu
thân phận trẻ mồ côi.
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
để dòng nước mắt chảy
là bớt khổ đi rồi…
hoàng hôn phủ trên mộ
chuông chùa nhẹ rơi rơi
tôi thấy tôi mất mẹ
mất cả một bầu trời.

Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt Nam không ưa nói cách cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là một kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức:

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Ngon biết bao nhiêu! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lại ngực cho ta, đặt bàn tay (bàn tay? Hay là tơ trời đâu la miên?) trên trán nóng ta và than thở “khổ chưa, con tôi”, ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một và đậm đà lịm cả cổ họng như đường mía lau. Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; những chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận. Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình thương yêu. Mẹ là giáo sư dạy về thương yêu, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý niệm thương yêu của tôn giáo vốn cũng dạy về tình thương. Đạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương đi tới tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước.

Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother’s Day) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với thầy Thiên Ân đến chùa, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương, không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.

Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ. Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất, mình có cảm nghĩ: thật như là mình chưa bao giờ thật có ý thức rằng mình có mẹ.

Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: “Mẹ ơi, mẹ có biết không?”. Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười: “biết gì?”- Vẫn nhìn vào mắt mẹ, em sẽ nói: “mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù ngươi lớn ba bốn mươi tuổi ngươi cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì ngươi là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong ý thức tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.

Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về Mục Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương, hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ hết rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận. Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì dương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. Con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Ngày xưa, thầy giáo hỏi rằng: “con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?” Tôi trả lời: “vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi”. Bây giờ thì tôi biết rằng: con thương mẹ thì không phải “làm thế nào”gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi “làm thế nào” nữa!

Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Để mai này anh chị đừng có than thở rằng: đời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì hoạ chăng có làm Ngọc Hoàng Thượng Đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc Hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc Hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.

Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng lẽ chị tôi không nên đi lấy chồng và tôi, tôi không nên đi xa nhà xa mẹ mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì đi theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lĩnh vực mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. Nhưng đến khi chúng tôi an cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác. Chị tôi gục đầu xuống mâm cơm, khóc. Chị nói: thôi con không lấy chồng nữa. Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi lập nghiệp xa quê. “Các ái từ sở thân” là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào là không khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi theo lý tưởng nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng quí báu đó. Mỗi khi lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ.
Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ. Tôi đã nói là tôi không khuyên rằn ai hết – tôi không giảng luân lý đạo đức - rồi mà. Tôi chỉ nhắc anh: mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương. Để anh đừng quên. Để chị đừng quên. Để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn: cũng không phải lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, vô tình mà bị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi.

Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học về, hoặc khi đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: “mẹ ơi, mẹ có biết không?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: “biết gì?” - Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: “mẹ có biết là con thương mẹ không?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng hỏi câu ấy, chị cũng hỏi câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em đều là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ được sống trong ý thức tình thương bất diệt. Và ngày mai mẹ mất, anh sẽ không hối hận, đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ.

Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đoá hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.

Đông Buồn



Lại một mùa đông đến
Gió lạnh đã tràn về
Làm lòng tôi xao xuyến
Nhớ về buổi đông xưa

Đông xưa em có nhớ
Hai đứa mình đùa vui
Cùng nhau chờ Chúa đến
Chúc phúc cho tình mình

Nhưng đông nay quạnh quắng
Chỉ có mổi mình anh
Ngôì đây chờ Chúa đến
Mang em về bên anh

Friday, January 12, 2007

Đưa Tang

Hồn tôi tan nát đưa tang
Mang nặng sầu đau đến nghĩa trang
Giờ đây tôi là người thơ thẫn
Thơ thẫn đi chôn những mộng vàng
Đêm nay ngồi khóc trong trăng lạnh
Trăng đắm chìm đi gió thở dài
Tôi nhớ tới người ôi tuyệt vọng
Lòng tôi đau đớn suốt thâu đêm
Ôi! tâm hồn tôi xưa đến nay
Rằng ai có có hiểu tôi đắm say
Có những buổi chiều sương rơi xuống
Lá thu vàng đổ như mưa bay
Tôi cứ ngỡ tôi quên được người
Nhưng sao khổ quá hởi người ơi
Tôi vào sâu quá và xa quá
Đường Lụt u sầu, ngập thương đau.
13/01/007
anhnhaque26